Trong bảy mươi năm Việt Nam đồng hành cùng Viện Liên hợp Nghiên cứu Hạt nhân (JINR) tại Dubna, một trong những thành quả bền vững nhất chính là đội ngũ các nhà khoa học được trưởng thành trong môi trường nghiên cứu quốc tế, mang tri thức, phương pháp và bản lĩnh trở về góp phần đặt nền móng cho ngành khoa học hạt nhân của đất nước. GS.TS Phạm Duy Hiển, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu hạt nhân Đà Lạt, là một gương mặt tiêu biểu của thế hệ ấy.

GS.TS Phạm Duy Hiển, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu hạt nhân Đà Lạt, chia sẻ về quá trình khôi phục lò.
Ảnh: Phùng Tiên
Trưởng thành từ Dubna
Con đường khoa học của ông bắt đầu tại Liên Xô, nơi ông bảo vệ luận án Tiến sĩ ngành hạt nhân tại Đại học Tổng hợp Lomonosov. Nhưng điều định hình ông sâu sắc hơn cả một tấm bằng là những năm tháng nghiên cứu và công tác tại Dubna - trung tâm khoa học liên chính phủ quy tụ các nhà vật lý hàng đầu của nhiều quốc gia, nơi vận hành những tổ hợp thiết bị thuộc loại độc đáo nhất thế giới. Tại đó, một nhà khoa học trẻ đến từ một đất nước còn đang có chiến tranh được đặt vào cùng một mặt bằng học thuật với đồng nghiệp quốc tế: cùng đọc, cùng tranh luận, cùng chịu trách nhiệm về kết quả của mình trước một cộng đồng khoa học nghiêm khắc.
Chính môi trường ấy đã hun đúc ở ông ba phẩm chất về sau trở thành dấu ấn suốt cuộc đời nghề nghiệp: sự chuẩn xác của tư duy thực nghiệm, thói quen bảo vệ luận điểm bằng số liệu chứ không bằng thẩm quyền, và tầm nhìn của một người quen làm việc trong không gian khoa học quốc tế. Ông thuộc thế hệ những nhà vật lý Việt Nam được JINR đào tạo - cùng với GS. Nguyễn Đình Tứ, GS.VS. Nguyễn Văn Hiệu và nhiều người khác - thế hệ đã biến hợp tác quốc tế từ một cơ hội học tập thành một nguồn lực phát triển quốc gia.
Bài toán chưa có tiền lệ tại Đà Lạt
Ngay sau ngày đất nước thống nhất, ông là người được cử vào Đà Lạt khảo sát công trình lò phản ứng hạt nhân do Mỹ xây dựng, ngừng hoạt động từ năm 1975. Đứng trước khối kiến trúc độc đáo do kiến trúc sư Ngô Viết Thụ thiết kế, ông bị vẻ đẹp của nó cuốn hút, dù hiểu rõ phía trước là một bài toán chưa từng có tiền lệ trong lịch sử ngành: hồi sinh một cỗ máy mang "vỏ" công nghệ Mỹ bằng "ruột" công nghệ Liên Xô - hai triết lý thiết kế lò phản ứng gần như đối lập nhau.
Đây cũng là nơi vốn tri thức tích lũy từ Dubna được đưa vào thử thách khắc nghiệt nhất. Không có sách vở nào chỉ dẫn cách ghép nối hai nền công nghệ ấy; chỉ có nền tảng vật lý vững chắc, năng lực làm việc với chuyên gia quốc tế và sự kiên trì của một tập thể. Trọng trách chủ trì công trình được đích thân Đại tướng Võ Nguyên Giáp giao cho ông trong một cuộc gặp mặt.
Trong quá trình triển khai công trình, ông không chỉ giải quyết những vấn đề chuyên môn mà còn phải lo đời sống cho cán bộ trong điều kiện thời bao cấp và xử lý nhiều tình huống phát sinh. Có thời điểm, ông trực tiếp gặp Đại tướng Võ Nguyên Giáp để xin hỗ trợ gạo cho anh em; sau một trận bão, ông quyết định tạm dừng công trình nhiều ngày để làm sạch lò, dù tiến độ đang rất khẩn trương. Những câu chuyện ấy cho thấy sự nhất quán trong cách ông đặt an toàn và con người lên trên sức ép tiến độ.

GS.TS Phạm Duy Hiển (phải) thảo luận với Trưởng đoàn Chuyên gia Liên Xô về kế hoạch triển khai công trình.
Ảnh: Viện Nghiên cứu hạt nhân
Bản lĩnh khoa học trước sức ép
Lát cắt đáng nhớ nhất về ông đến sau thảm họa Chernobyl năm 1986, khi một đoàn chuyên gia quốc tế cảnh báo lò Đà Lạt có nguy cơ thủng đáy trong vòng hai năm. Không khí lo lắng bao trùm lên cả những người có trách nhiệm cao nhất. Mệt mỏi trước sức ép dư luận, ông từng có ý định xin nghỉ. Chính Đại tướng Võ Nguyên Giáp, trong một cuộc gặp ngắn trước khi ông bay vào Đà Lạt, đã trực tiếp hỏi liệu đó có phải là ông đang "đầu hàng" - một câu hỏi đủ nặng để ông lặng lẽ quay về, tiếp tục công việc và tiếp tục bảo vệ luận điểm khoa học của mình trước Hội đồng Bộ trưởng.
Việc một nhà khoa học dám giữ vững kết luận của mình giữa một bầu không khí hoang mang toàn cầu không phải là sự bướng bỉnh cá nhân. Đó là biểu hiện của một chuẩn mực nghề nghiệp đã thành nếp: kết luận khoa học phải được phán xét bằng bằng chứng. Thực tế về sau đã chứng minh ông đúng. Lò vẫn vận hành an toàn suốt hàng chục năm, và Viện Nghiên cứu hạt nhân Đà Lạt còn được Tổng Giám đốc IAEA khi đó, ông Hans Blix, đánh giá là nơi sử dụng hiệu quả các dự án hợp tác kỹ thuật của cơ quan này.
Tiếp tục vai trò kết nối khoa học
Rời cương vị quản lý vào đầu thập niên 1990 để làm chuyên viên trưởng cho một dự án hợp tác khu vực của IAEA, ông không rời công việc gắn bó cả đời mình. Ông tiếp tục kết nối các đồng nghiệp quốc tế cho Viện, mở ra những hướng nghiên cứu mới về sau - vẫn đúng với phong cách của một người đã trưởng thành trong môi trường khoa học đa quốc gia, hiểu rằng khoa học không thể lớn lên trong khép kín. Và cho đến tận hôm nay, ông vẫn là cây bút quen thuộc trên chuyên trang tri thức Tia Sáng, viết về lịch sử công nghệ của chính lò phản ứng ông từng gắn bó, về điện hạt nhân, ô nhiễm không khí, hay năng lực nghiên cứu khoa học của các nước trong khu vực.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp thăm Viện Nghiên cứu hạt nhân, tháng 3/1984.
Ảnh: Viện Nghiên cứu hạt nhân
Nhìn lại chặng đường bảy mươi năm Việt Nam đồng hành cùng JINR, cuộc đời và sự nghiệp khoa học của GS.TS Phạm Duy Hiển là một minh chứng sinh động cho giá trị của hợp tác quốc tế trong đào tạo và phát triển nguồn nhân lực khoa học. Từ Dubna đến Đà Lạt, tri thức và bản lĩnh được tích lũy trong môi trường khoa học quốc tế đã được ông chuyển hóa thành năng lực giải quyết những bài toán thực tiễn của đất nước, đồng thời tiếp tục được lan tỏa qua hoạt động nghiên cứu, hợp tác và trao đổi học thuật.
Nguồn tin: https://vast.gov.vn/web/guest/tin-chi-tiet/-/chi-tiet/gs-ts-pham-duy-hien-tu-dubna-%C4%91en-%C4%91a-lat-nguoi-lam-song-lai-lo-phan-ung-hat-nhan-151884-403.html